Phân tích tác phẩm bài ca côn sơn

Phát biểu cảm nghĩ về Bài ca Côn Sơn | Văn mẫu 7

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (121.55 KB, 10 trang )

(1)

PHÁT BIỂU CẢM NGHĨ VỀ TÁC PHẨM

BÀI CA CÔN SƠN – VĂN MẪU 7

Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về Bài ca Côn Sơn của Nguyễn Trãi.
Bài mẫu hay nhất của một bạn học sinh giỏi Văn tỉnh Thái Bình

Học giả Đào Duy Anh xếp bài thơ Côn Sơn ca vào số 87 trong ức Trai thi tập.
Nguyên tác bằng chữ Hán, viết theo thể ca gồm 36 câu, câu ngắn nhất 4 chữ, câu dài nhất
10 chữ, phần lớn là ngũ ngôn và thất ngôn. Dịch giả đã chuyển thành thơ lục bát, 26 câu;
trong các bản dịch Côn Sơn ca thì bản dịch này là thanh thốt hơn, thể hiện được hồn thơ
Nguyễn Trãi đã nhiều năm ở ẩn tại động Thanh Hư thuộc Côn Sơn. Thời thơ ấu, Nguyễn
Trãi từng sống với mẹ và ông ngoại tại đấy. Nguyễn Trãi đã xem Côn Sơn là “quê cũ”
của mình. Trong ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập, ơng có nhiều bài thơ về Cơn Sơn với
bao tình thương mến, thắm thiết. Bao nhiêulần nhờ hồn mộng mà tìm làng cũ: “Kỉ thác
mộng hồn tầm cố lí” (Về Côn Sơn làm trong thuyền).

(Mạn thuật)
Côn Sơn ca là bài ca giao cảm với thiên nhiên, cũng là bài ca tâm trạng thời thế, triết lí về
cuộc đời.

Phần đầu nói về vẻ đẹp lâm tuyền của Côn Sơn bằng bốn cảnh: Suối, đá, thông và trúc.
Trong nguyên tác chữ Hán, tác giả viết bằng thơ bốn chữ và thơ năm chữ, nhằm miêu tả
vẻ đẹp Côn Sơn tầng tầng lớp lớp xuất hiện:

(2)

Cảnh đẹp thứ nhất là suối Cơn Sơn, tiếng nước chảy róc rách như tiếng đàn cầm. Cảnh
đẹp thứ hai là đá, mưa sạch rêu biếc như chiếu êm. Cảnh đẹp thứ ba là rừng thơng, tán lá
như những chiếc lọng rủ bóng đáng u gắn bó với tâm hồn nhà thơ. Suối, đá, trúc, thông
là nơi nương tựa, nâng đỡ tâm hồn, là đối tượng để thi nhân cùng với thiên nhiên giao
hòa giao cảm, để “Ta cho là đàn cầm”, để “Ta cho là đệm chiếu”, để “Ta nghỉ ngơi”
trong rừng thông, để “Ta ngâm nga” bên rừng trúc. Hình ảnh thơ là âm thanh, là màu sắc
gắn liền với cảm giác, với tâm hồn nhà thơ bằng những liên tưởng vô cùng thiết tha, đằm
thắm:

Gắn bó, chan hịa với suối, đá, thơng, trúc Cơn Sơn chính là biểu lộ tấm lòng của Nguyễn
Trãi đối với quê cũ yêu thương. Mấy chục năm trời loạn lạc, li hương, không đêm nào
ông không nằm mộng nhớ quê, nhớ luống cúc vườn cũ:

(3)

Câu thơ chữ Hán nghĩa là: Hỡi người sao không về đi, nửa đời người giam buộc mình
mãi trong cát bụi làm chi? Bốn chữ “Bất quy khứ lai” lấy cảm hứng từ bài “Quy khứ lai
từ” của Đào Tiềm, một danh sĩ cao khiết đời Tấn bên Trung Quốc đã coi thường danh lợi,
không chịu khom lưng uốn gối vì mấy đấu gạo lương bổng, đã treo ấn từ quan, trở về
vườn cũ, cày ruộng, ươm cúc, thảnh thơi với tháng ngày. Nguyễn Trãi làm quan tài năng
không được thi thố, bị bọn quyền thần, nịnh thần chèn ép. Có lúc ơng tự than: “Dưới
cơng danh đeo khổ nhục” (Ngơn chí), hoặc: “Được thua phú q dầu thiên mệnh – Chen
chúc làm chi cho nhọc nhằn” (Mạn thuật). Người anh hùng thuở “Bình Ngơ” đã từng
“Viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết mọi thời” thế mà giờ đây tự trách mình “Nửa đời
vướng bụi trần hồn làm chi?”, điều đó cho thấy Nguyễn Trãi đang sống những ngày
tháng đầy bi kịch. Đó là tâm trạng thời thế. Năm 1429, Lê Thái Tổ đã sát hại Trần
Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, hai đại cơng thần; cịn Nguyễn Trãi cũng đã bị hạ ngục.
Sau đó tuy được thanhưng chỉ là một công thần “thanh chức”. Nguyễn Trãi đã nhiều năm
sống trong tâm trạng muôn trở về Côn Sơn làm bạn với cỏ hoa chốn lâm tuyền:

Nguyễn Trãi có lúc tự dặn mình: “Vườn quỳnh dù có chim hót – Cõi trần có trúc đứng
ngăn”. Nhưng trước áp lực của bọn nịnh thần, ông phải lui về Côn Sơn. Mấy năm sau Lê

Thái Tông lại xuống chiếu vời Nguyễn Trãi ra làm quan. Trong biểu tạ ân, ông hả hê nói:
“Cảm mà chảy nước mắt, mừng mà sợ trong lịng”; ơng tự cho mình là con ngựa già “cịn
kham rong ruổi”, là cây thơng qua năm rét mà “cịn dạn tuyết sương”. Chẳng bao lâu sau
đó, Nguyễn Trãi đã về hẳn Côn Sơn. Cuộc đời Nguyễn Trãi đã phản ánh tâm trạng đầy bi
kịch giằng xé, đúng như ông đã viết trong Côn Sơn ca:

Thái Tông lại xuống chiếu vời Nguyễn Trãi ra làm quan. Trong biểu tạ ân, ông hả hê nói:“Cảm mà chảy nước mắt, mừng mà sợ trong lịng”; ơng tự cho mình là con ngựa già “cịnkham rong ruổi”, là cây thơng qua năm rét mà “cịn dạn tuyết sương”. Chẳng bao lâu sauđó, Nguyễn Trãi đã về hẳn Côn Sơn. Cuộc đời Nguyễn Trãi đã phản ánh tâm trạng đầy bikịch giằng xé, đúng như ông đã viết trong Côn Sơn ca:

(4)

Tác giả nhắc lại cách ứng xử và cái chết của Bá Di, Thúc Tề đời Ân, Chu, từ đó suy
ngẫm về “hiền ngu” ở đời, chung qui chỉ là “đều làm cho thỏa được như ý mình”.

Kiếp người khác nào “cây cỏ”, đời người một trăm năm, mừng, buồn, lo, vui, cái nọ đi,
cái kia đến, tốt tươi rồi khơ héo, tuần hồn nơi tiếp nhau trong vòng một trăm năm hữu
hạn. Sự chiêm nghiệm của nhà thơ thấm một nỗi buồn mênh mông, khi tóc đã bạc, chỉ
cịn biết làm bạn với mây núi, tráng ngàn:

Ý nghĩa cuộc đời là gì? Nguyễn Trãi mang màu sắc bi quan chưa hẳn đã sai? Đời người
“Trăm năm cịn có gì đâu? – Chẳng qua một nấm cỏ khơ xanh rì” (Cung ốn ngâm,
khúc). Với Nguyễn Trãi lúc này thì chết là hết. Sự phủ định đầy ngao ngán:

Nguyễn Trãi viết Côn Sơn ca không bao lâu trước khi vụ án Lệ chi viên xảy ra. Tâm
trạng thời thế, triết lí về cuộc đời mà Nguyễn Trãi nói đến trong phần hai bài ca là cả một
nỗi buồn thấm sâu, tỏa rộng trong tâm hồn nhà thơ. Từ những chiêm nghiệm lịch sử
phong kiến Việt Nam, nhất là ba triều đại Trần, Hồ, Lê, về cuộc đời ông ngoại (tướng
công Trần Nguyên Đán), về cha mình (Nguyễn Phi Khanh), về những thăng trầm, vinh
nhục, ngọt bùi cay đắng của đời mình, nên ức Trai mới có suy ngẫm ấyvề một phương
diện khác, triết lí về cuộc đời của Nguyễn Trãi thể hiện sự cảm thơng cho số kiếp của con
người. Cái nhìn ấy, sự suy ngẫm ấy mang tính nhân bản sâu sắc. Bi kịch của Nguyễn Trãi
là bi kịch của kẻ sĩ trong xã hội phong kiến, cũng là bi kịch lịch sử “Anh hùng di hận kỉ
thiên niên” (Quan Hải).

(5)

Sao Phủ và Hứa Do, hai cao sĩ đời vua Nghiêu trong lịch sử truyền kì Trung Quốc khơng
màng cơng danh, chỉ thích sống cuộc đời ẩn sĩ, coi trọngthanh cao, chan hòa với núi cao
rừng thẳm. Nguyễn Trãi một mặt cảm thơng, kính trọng tấm gương sáng của hai người
hiền xa xưa, mặt khác tự hào biểu lộ niềm tự hào về tâm thế của mình: trở về Cơn Sơn là
để thốt vịng danh lợi, được chan hòa với suốirừng thiên nhiên, sống cuộc đời nhàn hạ,
thanh cao. Đó là âm điệu trữ tình, là nội dung tư tưởng tình cảm của “Khúc hát bên ghềnh
Côn Sơn” vậy.

Nếu văn (Qn trung từ mệnh tập, Bình Ngơ đại cáo…) là khúc ca thắng trận của
người anh hùng thì thơ (Quốc âm thi tập, ức Trai thi tập) là tấm lịng, là ý chí nung nấu
của ức Trai. Cơn Sơn ca là bài hát về suối, đá, thông, trúc, là tình yêu quê hương, là
những suy ngẫm buồn lo về cuộc đời, về kiếp ngươi hữu hạn trong dòng chảy vô hạn của

thời gian. Cảnh sắc thiên nhiên Côn Sơn đã trở thành tâm hồn của ức Trai. Triết lí về
cuộc đời mà Nguyễn Trãi nói đến trong phần hai bài ca thật ra khơng có gì mới. “Thân
cát bụi lại trở về cát bụi” (Kinh Thánh), “Sinh tồn hoa ốc xứ – Linh lạc qui sơn khưu
(Sống ở nhà lộng lẫy, chết lại về núi gò – Tào Thực, đời Hán). “Xử thế nhược đại
mộng-Hồ vị lao kì sinh?” (Sơng ở đời như giấc mộng lớn- Tội chi vất vả đời mình – Lí Bạch)…
Có điều, qua Côn sơn ca, ta thấy hồn thơ của ức Trai rất đẹp. Nguyễn Trãi tự hào cuộc
đời mình thanh cao, thương cuộc đời mình đầy bi kịch, thương đời người cát bụi. Chất
triết lí Cơn Sơn ca giàu tính nhân văn để lại dấu ấn đậm đà trong lòng ta..

thời gian. Cảnh sắc thiên nhiên Côn Sơn đã trở thành tâm hồn của ức Trai. Triết lí vềcuộc đời mà Nguyễn Trãi nói đến trong phần hai bài ca thật ra khơng có gì mới. “Thâncát bụi lại trở về cát bụi” (Kinh Thánh), “Sinh tồn hoa ốc xứ – Linh lạc qui sơn khưu(Sống ở nhà lộng lẫy, chết lại về núi gò – Tào Thực, đời Hán). “Xử thế nhược đạimộng-Hồ vị lao kì sinh?” (Sơng ở đời như giấc mộng lớn- Tội chi vất vả đời mình – Lí Bạch)…Có điều, qua Côn sơn ca, ta thấy hồn thơ của ức Trai rất đẹp. Nguyễn Trãi tự hào cuộcđời mình thanh cao, thương cuộc đời mình đầy bi kịch, thương đời người cát bụi. Chấttriết lí Cơn Sơn ca giàu tính nhân văn để lại dấu ấn đậm đà trong lòng ta..

Bài mẫu 1

Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu là Ức Trai, con của Nguyễn Phi Khanh, quê gốc xã
Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Gia đình đến lập nghiệp ở làng Nhị Khê,
huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây và Nguyễn Trãi được sinh ra tại đây. Năm 1400, ông đậu
thái học sinh và ra làm quan trong triều nhà Hồ. Sau đó tham gia khởi nghĩa Lam Sơn,
với vai trị qn sư bên cạnh chủ tướng Lê Lợi. Nguyễn Trãi là nhà tư tưởng, nhà quân sự
thiên tài, nhà ngoại giao xuất chúng, nhà văn hóa, nhà thơ nỗi lạc. Ơng đã để lại cho đòi
một sự nghiệp văn chương đồ sộ và phong phú, trong đó có Bình Ngơ đại cáo, Ức Trai
thi tập, Quốc âm thi tập, Quân trung từ mệnh tập…

Bài ca Cơn Sơn (Cơn Sơn ca) có nhiều khả năng được sáng tác trong thời gian hịa
bình, ơng dã cáo quan về sống ở Côn Sơn. Côn Sơn không chỉ là q hương mà cịn là
mảnh đất ni dưỡng tâm hồn Nguyễn Trãi.

Côn Sơn ca vừa là bài ca thiên nhiên vừa là bài ca tâm trạng. Hai ý này hòa quyện thống
nhất trong cảm xúc của thi nhân. Đoạn trích miêu tả cảnh đẹp thiên nhiên nhưng vẫn
thấm nhuần ý vị trữ tình của tâm trạng.

(6)

Sự giao hòa tuyệt đối giữa con người với cảnh vật được thể hiện khá rõ trong đoạn thơ,
qua đó phản ánh nhân cách thanh cao và tâm hồn phóng khống của Nguyễn Trãi.

Trước hết, ta hãy thưởng thức giọng thơ sảng khoái, hứng khởi, bộc lộ qua các câu thơ tự
do trong nguyên văn chữ Hán:

Nhịp thơ rộn rã như nhịp đàn, nhịp phách. Tinh thần sảng khoái trong tâm hồn thi sĩ đã
tạo nên chất phóng khống của lời thơ.

Gần trọn cuộc đời lo cho dân, cho nước, nhưng những năm cuối đời, Nguyễn Trãi phải
sống trong sự đố kị, ghen ghét của đám nịnh thần. Vì vậy, khi trở về Côn Sơn, Nguyễn
Trãi như con chim bằng sổ lồng tung cánh, cảm thấy mình thật sự tự do giữa trời cao đất
rộng. Lúc này, ông mới được sống thật với chính mình, mới được là mình. Thi sĩ lúc dạo
chơi, khi nằm nghỉ, khi chuyện trò tâm sự với những người nông dân áo vải, lúc cao hứng
ngâm nga, vui say giữa rừng núi quê nhà. Phong thái nhà thơ thật giản dị, ung dung mà
cũng thật cởi mở, chan hòa.

(7)

của ngòi bút Nguyễn Trãi, khung cảnh Côn Sơn hiện liên với những đặc điểm riêng biệt,
không lẫn với bất cứ bức tranh sơn thủy nào.

Trong bài thơ, đại từ ta xuất hiện năm lần. Ta ở đây chính là Nguyễn Trãi. Ta nghe tiếng
suối mà như nghe tiếng đàn. Ta ngồi trên đá lại tưởng ngồi chiếu êm. Ta nằm hóng mát,
ta ngâm thơ nhàn… Giữa khung cảnh mơ mộng, hình ảnh của thi sĩ giống như một nhà
hiền triết hoặc một ông Tiên ông đang đắm mình vào thiên nhiên tuyệt mĩ.

Nguyễn Trãi vừa là thi sĩ rung cảm trước cái đẹp, vừa là họa sĩ vẽ nên phong cảnh hữu
tình của Cơn Sơn. Ơng đã vẽ bức tranh Cơn Sơn với cây, với suối, với nhân vật trữ tình là
chính mình. Đồng thời, ơng cịn là một nhạc sĩ tài hoa, bằng những nốt nhạc bổng trầm,
dệt nên Bài ca Cơn Sơn du dương cuốn hút lịng người.

Thiên nhiên Cơn Sơn khoáng đạt và thanh tĩnh. Bao trùm lên tất cả là sắc lá xanh ngời. Ở
đây có suối chảy rì rầm, có bàn đá rêu phơi, có rừng tùng, rừng trúc che ánh nắng mặt
trời, tạo ra khung cảnh tao nhã cho thi nhân ngồi ngâm thơ nhàn một cách thú vị… Hình
ảnh cây trúc, cây tùng trong văn chương tượng trưng cho khí phách cứng cỏi của người
quân tử : Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất.

Nhà thơ hịa mình vào thiên nhiên hoang sơ đầy quyến rũ. Từ tiếng suối chảy róc rách,
những tấm thảm rêu biếc, những tán thông kiêu hãnh, rừng trúc xanh tươi đều toát lên vẻ
yên ả, đem lại sự thanh nhàn, bình yên cho tâm hồn. Bao lo lắng, phiền muộn của cuộc
đời dường như được trút sạch, con người và thiên nhiên hịa làm một.

Bức tranh Cơn Sơn được Nguyễn Trãi cảm nhận không chỉ bằng thị giác, thính giác mà
cịn được cảm nhận bằng cả trái tim. Người đọc nhận ra cái “tâm” trong sáng và cái tài
độc đáo của thi nhân qua bài thơ này.

Bóng dáng nhà thơ hiện lên mờ ảo, thấp thoáng. Dường như ông hòa lẫn vào suối, vào
rêu, vào đá, vào thông, vào trúc. Cái bóng dáng ẩn hiện và tiếng ngâm thơ trầm bổng,
ngân nag trong không gian ấy gần như đã thể hiện đúng hoàn cảnh và tâm trạng của
Nguyễn Trãi lúc bấy giờ.

Nếu như ở bốn câu đầu, cảnh thiên nhiên Cơn Sơn được miêu tả khách quan thì ở các câu
thơ sau, tác giả lại kín đáo lồng vào trong đó lời khuyên xuất thế. Khi Nguyễn Trãi cáo
quan về quê, mọi người đều tưởng ông bất mãn, chán đời, lui vào ẩn dật để quên mình,
quên đời… nhưng khơng phải vậy. Lê Thánh Tơng hiểu lịng ơng, vời ông ra làm việc,
ông lại hăng hái về triều, gánh vác việc dân, việc nước. Trong biểu tạ ơn vua, Nguyễn
Trãi đã tự ví : Thần như con ngựa già còn ham rong ruổi…

(8)

Cảnh khuya, chúng ta sẽ thấy cả hai đều là cảm xúc của tâm hồn thi sĩ tinh tế, cùng tưởng
tượng tiếng suối giống như tiếng nhạc, tiếng hát tuyệt vời.

Hai người cùng chung đề tài, chung biện pháp nghệ thuật so sánh nhưng khác nhau ở vị
thế lúc làm thơ.

Bài ca Côn Sơn được sáng tác khi Nguyễn Trãi bất đắc dĩ phải sống ẩn dật ở Chí Linh.
Cịn Cảnh khuya được nhà cách mạng Hồ Chí Minh viết trong lúc giữ cương vị tổng chỉ

huy củ cuộc kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc. Hai cảnh ngộ, hai tâm trạng khác nhau,
tuy đều lấy tiếng suối làm mạch nguồn cảm xúc nhưng sự cảm nhận và liên tưởng của
mỗi người lại thể hiện nét riêng mang đậm dấu ấn cá nhân và tinh thần thời đại.

huy củ cuộc kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc. Hai cảnh ngộ, hai tâm trạng khác nhau,tuy đều lấy tiếng suối làm mạch nguồn cảm xúc nhưng sự cảm nhận và liên tưởng củamỗi người lại thể hiện nét riêng mang đậm dấu ấn cá nhân và tinh thần thời đại.

Hai nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, hai thi nhân tầm vóc thời đại tuy sống cách nhau năm
thế kỉ nhưng giống nhau ở cảm hứng mãnh liệt trước thiên nhiên tươi đẹp. Chỉ khác là
nghe tiếng suối, Nguyễn Trãi liên tưởng đến tiếng đàn huyền diệu, cịn Chủ tịch Hồ Chí
Minh lại nghĩ tới âm hưởng hùng tráng của bài ca chiến thắng trong tương lai.

Đọc những bài thơ của Nguyễn Trãi viết về cảnh vật thơn q, chúng ta hiểu thêm
về tình u q hương, đất nước sâu nặng của ông. Bài ca Côn Sơn khiến lòng ta xao
xuyến, bồi hồi và càng thêm gắn bó với từng mảnh vườn, góc phố quê hương.

Bài mẫu 2

Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca) là một bài thơ chữ Hán nổi tiếng. Có lẽ Nguyễn Trãi
viết bài thơ này trong thời kì ơng cáo quan về ở ẩn ở Côn Sơn để giữ cho tâm hồn được
thanh cao, trong sạch.

Đối với Nguyễn Trãi, Cơn Sơn là một miền đất có sức hút kì lạ. Chẳng thế mà hai
lần cáo quan về ở ẩn, ơng đều tìm về với Cơn Sơn. Và núi rừng Côn Sơn thanh vắng đã
trở thành một thế giới riêng đầy thân thương gắn bó với thi nhân. Tại Cơn Sơn, Nguyễn
Trãi được sống với chính mình. Dường như thiên nhiên đã trở thành cứu cánh cho tâm
hồn ông- một tâm hồn đớn đau vì nhân tình thế thái. Tại Côn Sơn, mọi vật đối với ông trở
nên có tình, có nghĩa, như bầu bạn, như tri âm:

(Thuật hứng – Bài 19)

Cảnh trí Cơn Sơn thanh tĩnh, rộng mở, để cho tâm hồn Nguyễn Trãi hoá thân tìm về, ùa
vào đó mà qn đi mọi nỗi ưu phiền:

Cảnh trí Cơn Sơn thanh tĩnh, rộng mở, để cho tâm hồn Nguyễn Trãi hoá thân tìm về, ùavào đó mà qn đi mọi nỗi ưu phiền:

(9)

(Trích Cơn Sơn ca).
Đoạn mở đầu bài Côn Sơn ca đem đến cho người đọc bao cảm nhận mới mẻ về tâm hồn
thi sĩ của Ức Trai. Trong cảm xúc của ơng, cảnh trí Cơn Sơn hiện ra thật thơ mộng và
lãng mạn: có tiếng suối chảy rì rầm, có đá rêu phơi êm ái, có rừng thơng mọc rậm, dày,
có rừng trúc xanh mát…, vừa có cái hoang dã của thiên nhiên, vừa có hơi ấm của cuộc
sống đầy ắp tình người. Hơn nữa, trong con mắt thi nhân, thiên nhiên không chỉ là cảnh,
mà đã trở thành nhà. Ngôi nhà thiên nhiên ấy thật đặc biệt: suối là đàn, rêu là chiếu, bóng
thơng làm giường, bóng tre trúc là nơi ngâm vịnh thơ ca. Thật là tuyệt thú! Và trong ngôi
nhà thiên nhiên ấy, ơng để tâm hồn mình giao hồ với cảnh và vẽ lại nó bằng một ngọn
bút tài hoa.

Bức tranh thiên nhiên được chấm phá bằng âm thanh rì rầm của tiếng suối được cảm
nhận như tiếng đàn:

Một hình ảnh so sánh thật độc đáo và gợi cảm. Suối đang chảy hay thi nhân đã thả hồn
mình vào tiếng suối, làm rung lên cung đàn diễn tả nỗi khát khao yêu cuộc sống?

Năm trăm năm sau, thi sĩ Hồ Chí Minh cũng có chung cảm nhận ấy:

(10)

một mình? Có lẽ là cả hai. Trên nhân gian này, khơng ít người đã từng ngồi trên đá,
nhưng làm sao họ cảm nhận được như thi nhân?

Một hình ảnh so sánh liên tưởng đầy thú vị khiến ta không khỏi ngỡ ngàng. Nguyễn Trãi
trở về Côn Sơn không phải là để ẩn dật theo đúng nghĩa của cách sống ẩn dật, mà ông trở
về Côn Sơn với nỗi hân hoan đầy tự do của một con người trở về nhà mình (Hồng Phủ
Ngọc Tường). Và trong ngơi nhà ấy, ông không những được tha hồ nghe nhạc rừng, ngồi
trên đá đánh cờ, mà cịn được nằm dưới bóng thơng râm mát, được ngâm thơ nhàn dưới
bóng trúc xanh. Một cuộc sống mà người và cảnh gắn bó với nhau, hồ nhập vào nhau.
Lịng Ức Trai thanh thản đến lạ kì.

Chưa bao giờ mà tâm hồn thi sĩ của Ức Trai lại được bộc lộ đầy đủ, sâu sắc và đầm thắm
đến thế!

Cũng tại Côn Sơn này, hồn thơ Ức Trai cịn tiếp tục rộng mở để đón nhận thiên nhiên,
chở thiên nhiên về chất đầy kho:

Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc

Thuyền chở yến hà nặng vay then

(Thuật hứng – Bài 24)
Tình yêu thiên nhiên sâu nặng đến mức thi nhân sợ bóng hoa tan mà khơng dám quét
nhà:

Bài 6: Bài ca Côn Sơn – Phần 1 [OLM.VN]

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Tin tức
Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Tin tức Tại Website Pkmacbook.com
Chat Facebook
Chat Zalo
Hotline: 0899.322.522